CHUYẾN ĐI KHẢO SÁT CÁC DI TÍCH, ĐIỂM THAM QUAN, LÀNG NGHỀ CỦA TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU PHẦN 9: CÔN ĐẢO - BIỂU TƯỢNG CỦA LÒNG YÊU NƯỚC

CHUYẾN ĐI KHẢO SÁT CÁC DI TÍCH, ĐIỂM THAM QUAN, LÀNG NGHỀ CỦA TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU PHẦN 9: CÔN ĐẢO - BIỂU TƯỢNG CỦA LÒNG YÊU NƯỚC

Tiếp tục chuyến khảo sát các điểm tham quan di tích, danh thắng , làng nghề, tháng 11/2012 đoàn đến Côn Đảo để khảo sát các điểm: Nghĩa trang Hàng Dương, Hệ thống Nhà tù, Cầu Tàu 914, Nhà Công Quán, Nhà Chúa Đảo, Sở Cò, Cầu Ma Thiên Lãnh, Miếu Bà Phi Yến. 
* Nghĩa trang Hàng Dương
Là nơi yên nghỉ của hàng vạn chiến sĩ cách mạng và đồng bào yêu nước Việt Nam qua nhiều thế hệ bị địch bắt, tù đày, hy sinh trên mãnh đất Côn Đảo. Mỗi nắm đất ở nghĩa trang Hàng Dương là một dấu tích đấu tranh của người chiến sĩ Cách mạng 
“Núi côn Lôn được pha bằng máu
Đất Côn Lôn năm, sáu lớp xương người
Mỗi bước chân che lấp một cuộc đời
Mỗi tảng đá là một trời đau khổ”
“Nghĩa địa Hàng Dương vùi chôn bao số phận
Hết lớp này, lớp khác dập lên trên
Mặt phẳng lì không mô đất nhô lên
Không bia mộ, không tên và không tuổi”…
Nghĩa trang Hàng Dương được khởi công xây dựng và tôn tạo ngày 19/12/1992 gồm 5 khu: Khu A có 690 ngôi mộ (có 7 mộ tập thể) trong đó 91 mộ có tên và 599 mộ khuyết danh (là các mộ có từ năm 1945 trở về trước). Nơi đây có ngôi mộ của cố Tổng Bí thư Lê Hồng Phong và nhà yêu nước Nguyễn An Ninh; Khu B1 gồm 210 ngô mộ (có 14 mộ tập thể) trong đó 62 mộ có tên và 148 mộ khuyết danh, đa số các mộ có từ năm 1945 -1960; Khu B2 có 485 ngôi mộ (có 3 mộ tập thể) trong đó 218 mộ có tên và 267 mộ khuyết danh đa số các mộ có từ năm 1945 -1962. Nơi đây có ngôi mộ của nữ anh hùng liệt si Võ Thị Sáu, anh hùng Cao Văn Ngọc và anh hùng Lưu Chí Hiếu; Khu C gồm 374 ngôi mộ (có 1 mộ tập thể) trong đó 327 mộ có tên và 47 mộ khuyết danh đa số các mộ có từ năm 1960 -1975. Nơi đây có ngôi mộ của anh hùng Lê Văn Việt và nữ anh hùng Nguyễn Thị Hoa (Trần Thị Thanh); Khu D có 162 ngôi mộ trong đó 15 mộ có tên và 147 mộ khuyết danh, đặc biệt khu D là khu mộ qui tập những nắm mộ từ Hòn Cau, hàng Keo và rải rác ở các nơi về. Nơi đây có ngôi mộ của anh hùng Trần Văn Thời.
* Hệ thống Nhà tù Côn Đảo
Nơi Thực dân Pháp và Đế quốc mỹ đã giam cầm chiến sĩ Cách mạng qua 113 năm, đồng thời là nơi lưu dấu lịch sử đấu tranh kiên cường bất khuất của dân tộc Việt Nam. Hệ thống nhà tù Côn Đảo thời Pháp, Mỹ xây dựng 127 phòng, 42 xà lim, 504 phòng “biệt lập chồng cọp” và 18 sở tù.
Trại Phú Hải (còn được gọi là Banh I, lao I, trại Cộng Hòa, Trại 2) xây dựng năm 1892 và chỉnh trang lại kiên cố năm 1896, diện tích 12.015m2 gồm 10 phòng giam tập thể, 1 phòng giam tù đặc biệt, 20 xà lim, 1 hầm xay lúa, 1 khu đập đá. Dây là trại giam lớn và cổ nhất ở Côn Đảo, nơi đây mang đậm dấu tích của các thời kỳ lịch sử.
Trại Phú Sơn (còn được gọi là Banh II, lao II, trại Nhân Vị, Trại 3) xây dựng năm 1916 , diện tích 13.228m2 gồm 13 phòng giam tập thể, 1 khu biệt lập có 14 xà lim, 1 phòng tối.
Trại Phú Thọ (còn được gọi là Banh III, lao IV, trại Bác Ái, Trại 1) xây dựng năm 1928 và chỉnh trang lại kiên cố năm 1896, diện tích 12.700m2 . Thời Pháp gồm 3 dãy phòng giam trong đó có 2 dãy phòng giam tập thể và 1 dãy phòng giam biệt lập. sau cách mạng tháng 8/1945 trại giam này được chỉnh trang lại còn 2 dãy phòng giam (theo thứ tự từ phòng 1-8). Thời Mỹ-Ngụy xây thêm 2 phòng 9 và 10. Phòng 10 dùng làm khu biệt lập để bổ sung cho khu chuồng cọp (còn có tên là biệt lập chuồng gà do người tù đặt)
Trại Phú Tường (còn được gọi là Banh III phụ , lao III, trại phụ Bác ái, Trại 4) xây dựng năm 1941 , diện tích 5.804m2 gồm 8 phòng giam tập thể. Banh III cùng Banh III phụ và trại 5 tạo thành 1 cụm bao quanh khu biệt lập nổi tiếng “chuồng cọp Pháp”
Chuồng cọp Pháp xây dựng năm 1940 , diện tích 5.475m2 gồm 120 phòng biệt giam, 60 phòng không có mái che là phòng tắm nắng là nơi hành hạ đánh đập tra tấn, phơi nắng, phơi mưa người tù. Cuối năm 1970 Mỹ-Thiệu giải tỏa chuồng cọp (biến khu này thành chuồng nuôi thỏ) để xoa dịu làn sóng đấu tranh của tù nhân cũng như phong trào yêu nước ở Miền nam Việt Nam và dư luận quốc tế. 
Biệt lập chuồng bò (thời Mỹ Ngụy còn gọi là trại an ninh chuồng bò), xây dựng năm 1930 , diện tích 4.410m2 gồm 9 phòng biệt giam, 24 hộc chứa heo, 2 chuồng nhốt bò, 1 hầm chứa phân bò. Năm 1963 để mở rộng nhà tù Mỹ -Ngụy sữa 24 hộc nuôi heo thành 24 phòng giam. Hầm phân bò  sâu 3m chia làm 2 ngăn có hệ thống cống ngầm từ chuồng nuôi bò dẫn sang, địch sử dụng hầm phân bò này để ngâm người tù xuống đó tra tấn, hành hạ cực kỳ dã man và bí mật.
Trại Phú Phong ( còn gọi là Trại 5), xây dựng năm 1962 , diện tích 3.954m2 gồm 12 phòng giam tập thể
Trại Phú An ( còn gọi là Trại 6), xây dựng năm 1968 , diện tích 42.140m2 gồm 20 phòng giam, và 8 xà lim
Trại Phú Bình ( còn gọi là Trại 7, chuồng cọp kiểu Mỹ), xây dựng năm 1971 , diện tích 25.768m2 gồm 384 phòng biệt giam. Đây cũng là nơi trỗi dậy đầu tiên vào lúc 12h đêm 30/4 rạng sáng 01/5/1975 giải phóng nhà tù Côn đảo thoát khỏi “Địa ngục trần gian” suốt 113 năm
Trại Phú Hưng (còn gọi là Trại 8), xây dựng năm 1971 , diện tích 26.200m2 gồm 20 phòng giam và 8 xà lim, nhưng chỉ hoàn tất 10 phòng giam thì hiệp định Pari ký kết nên đã bỏ dở.
Trại 9 Mỹ -ngụy đang cho đổ bê tông, đúc cột thì hiệp định Pari ký kết nên đã bỏ dở.
18 sở tù gồm: sở lưới, sở ruộng, sở làm đá, sở kéo cây, sở chuồng bò, sở lò gạch, sở lò vôi, sở muối, sở bản chế, sở tiêu, sở rẫy An hải, sở cỏ ống, sở hòa ni, sở bông hồng, sở rẫy ông lớn, sở ông đụng, sở vệ sinh, sở đất dốc. các sở này lần lượt xuất hiện trước sau không đồng loạt là nơi cải tạo người tù bằng lao động khổ sai, nhằm mục đích phục vụ toàn diện các mặt đời sống cho bộ máy hành chánh của địch và cho đời sống người tù trên Đảo
* Cầu Tàu 914
Cầu Tàu nằm tại khu trung tâm bãi biển chính của thị trấn Côn Đảo, được khởi công xây dựng từ năm 1873 bằng sức lao động khổ sai của tù nhân, đây là nơi chứng kiến nỗi cực nhục đầu tiên của những người bị đưa ra đảo tù đày, nhiều người chỉ qua cầu một lần rồi vĩnh viễn yên nghỉ tại Côn đảo.Cầu tàu cũng là nơi chứng kiến những giờ phút vinh quang xúc động mỗi dịp Đảo được giải phóng. Trong quá trình xây dựng có khoảng 914  người tù đã ngã xuống vì lao dịch, tai nạn trong quá trình khổ sai xây cầu, cho mên con số 914 được đặt tên cho cầu tàu này.
* Nhà Công Quán
Nằm phía trong Cầu Tàu 914, bên cạnh bờ biển, được xây dựng cùng thời điểm  với cầu tàu. Nhà Công Quán dùng làm nơi nghỉ chân của những người ra Côn đảo thi hành nhiệm vụ dưới thời Thực Dân Pháp (Nhà khách vãng lai, Nhà ăn nhanh, câu lạc bộ dưới thời Mỹ-Ngụy), đồng thời là nơi Nhạc sỹ kỳ tài người Pháp có chân trong Viện Hàn Lâm ở Paris Camille Saint Saens trong chuyến đến thăm Côn Đảo từ ngày 20/3 đến 19/4/1895 hoàn thành vở nhạc kịch bất hủ Brunehilda. 
* Nhà Chúa Đảo
Là nơi sống và làm việc của 53 đời Chúa đảo trong suốt 113 năm lịch sử Nhà Tù Côn Đảo ( năm 1862-1975). Có tổng diện tích 18.600m2 trong đó nhà chính và nhà phụ 1.250m2 , sân vườn 17.000m2  từ ngày giải phóng đến nay Nhà Chúa Đảo làm nơi trưng bày tư liệu, vật phẩm có giá trị lịch sử.
* Sở Cò
Sở Cò tức Sở Cảnh sát Tư pháp nằm trên đường Lê Duẩn. Nơi đây Thực dân Pháp đã giam giữ Nữ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu một đêm trước khi hành quyết ( tử hình) ngày 22/01/1952
* Cầu Ma Thiên Lãnh
 Nằm dưới chân núi Chúa, năm 1930-1945 thực dân Pháp mở nhánh đường chạy thẳng lên đèo Ông Đụng qua rặng núi đến sở Ông Câu bên bờ tây của Đảo để tiện kiểm soát tù vượt ngục. Khi mở đường bọn chúa ngục bắt tù nhân khiêng đá xây trên đèo Ông Đụng một cây cầu. Do địa thế núi cheo leo, hiểm trở, lao dịch nặng nhọc quá sức, nhẩm tính có 356 người tù người tù chết tại đây mà cầu chỉ mới xây được 2 mố cầu, mỗi mố cao khoảng 8m. Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, công trình này bỏ dở dang. Tên Ma Thiên Lãnh do tù nhân lấy tên ngọn núi Ma Thiên Lãnh ở Triều Tiên, địa thế hiểm ác khó lên xuống, phỏng theo truyện tàu “Tiết Nhân Qúi Chinh Đông” đặt tên cho cầu này.
* Miếu Bà Phi Yến và truyền thuyết về cuộc đời bà thứ phi Hoàng Phi Yến
Nơi thờ vị Thứ Phi Hoàng Phi yến của Chúa Nguyễn Ánh. Theo truyền thuyết của người dân Côn Đảo kể rằng vào khoảng cuối thu năm 1783 Nguyễn Ánh bôn tẩu ra Côn Đảo để tránh sự truy đuổi của nghĩa quân Tây Sơn. Vì thất bại liên tục nên ông có ý định đưa Hoàng tử tháp tùng cùng linh mục Bá Đa Lộc sang Pháp làm con tin để cầu viện. Bà Phi Yến rất không với việc này và có những lời khuyên can không nên cầu viện Pháp đó là hành động bán nước hại dân. Nguyễn Ánh nổi trận lôi đình, nghi bà Phi Yến có ẩn ý thông đồng với quân Tây sơn. Trước cảnh búa rìu sấm sét của một vị chúa độc tài bà Phi Yến không thoát khỏi tội chém đầu, nếu như không có sự ngăn cản của các quan cận thần trong triều, Nguyễn Ánh có ác ý làm khổ người vợ trẻ bằng cách giam cầm Bà vào một hang đá trên một hòn đảo hoang vắng, địa danh Hòn Bà ra đời từ đó. Trước hang đá có nhiều tảng đá lớn chắn ngang nên bà không thể ra ngoài được, trong hang chỉ có ít bánh nếp và một chum nước lã vừa đủ sống chừng nữa tháng trở lại. tại đó chỉ có con vượn bạch, một con vật hết sức khôn ngoan và trung thành vì bà nuôi nó từ khi còn nhỏ luôn luôn ở bên cạnh hầu hạ bà. Nguyễn Ánh nghe tin có quân Tây Sơn sắp tràn ra đảo bèn cùng đám tùy tùng xuống mấy chiếc thuyền chạy về đảo Phú Quốc. Khi thuyền sắp nhổ neo, Hoàng tử thấy sao không có mẹ mình bèn hỏi thăm, có người trung nghĩa tiết lộ mẹ của Hoàng tử đang bị giam cầm. khi đó cậu mới khóc rống lên kêu gào thảm thiết để yêu cầu với cha là cho mẹ cùng theo, hoặc là cùng sống chết với mẹ. Nguyễn Ánh đã xách đầu đứa con vô tội ném xuống biển, ngay lập tức hắc hổ -con vật được Hoàng tử nuôi và rất yêu quí- đã phóng theo Hoàng tử. Nhưng con hắc hổ không cứu kịp Hoàng tử. Sau khi lội được vào bờ không thấy Hoàng tử cùng lên, nó cứ đứng nhìn mãi ra biển cho đến khi thủy triều rút cạn nhìn thấy thi hài Hoàng tử nằm yên trên bãi san hô, nó bèn đem thi hài của Hoàng tử lên móc lỗ chôn tại giữa khu rừng gần bãi Đầm Trầu. dân làng Cỏ Ống thấy con vật mà ăn ở có tình có nghĩa như vậy nên ai cũng động lòng, xúm nhau vụn đất, đắp đá cho nấm mộ được cao lên. Rồi lập miếu phía trước mộ để thờ Hoàng tử. miếu ấy mệnh danh là Miếu Cậu. Sau khi chôn cất Hoàng tử xong, tuy chỉ là con vật nhưng  rất có nghĩa với Hoàng tử  Hội An, đêm lên rừng rậm non cao kiếm ăn, ngày về nằm bên mộ Hoàng Tử kêu gào thảm thiết. một đêm nọ không rõ tình cờ hay vì một lý do huyền bí nào đó Hắc hổ gặp lại Vượn bạch và được vượn bạch dẩn đường qua tận bên kia hòn đảo (tức Hòn Bà ngày nay) để gặp được đức bà Phi Yến đang bị giam cầm trong động đá, hắc hổ đã cõng bà Phi Yến và cùng vượn bạch đã đưa bà ra khỏi hang. Hơn nửa ngày vượt suối trèo đèo vất vả lắm mới qua tới được ven rừng Cỏ Ống. khi tới trước mộ Hoàng tử hai con vật dừng chân lại, dân làng Cỏ Ống hay tin kéo đến rất đông và kể cho bà biết đây là nấm mộ của Hoàng tử. Dân làng Cỏ Ống xúm nhau làm một ngôi nhà khá khang trang gần mộ Hoàng tử để bà sớm hôm chăm sóc ngôi mộ đứa con vô phúc của mình. Bởi bà Phi Yến có tên tục là RĂM và Hoàng tử Hội An có tên riêng là CẢI nên người đương thời bấy giờ mới đặt ra câu hát: “Gió đưa cây Cải về trời, Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay"
Một hôm làng An Hải có cuộc đàn chay khá lớn. muốn cho cuộc lễ phước thiện ấy thêm phần long trọng, ban hội tề  làng An Hải cử một bô lão làm đại diện và bốn dân phu qua tận làng Cỏ Ống để thỉnh đức bà Phi Yến, khi đến nơi người ta dọn sẳn cho bà một gian phòng đặc biệt để bà có chỗ nghỉ ngơi. Thuở ấy (1785) Đức bà Phi Yến mới 25 tuổi xuân, nhan sắc đang thời tươi thắm, lộng lẫy như một bà tiên nên tên đồ tể của làng An Hải là Biện Thi không ngăn nổi lòng tà dục và hắn đã đi đến nước liều. đêm đó hắn giả say rồi lén chui vào phòng giửa lúc đức bà đang ngon giấc. Khi hắn vừa mới chạm đến cánh tay thì Đức bà giật mình thức dậy và tri hô lên, tức thì tên Biện Thi bị dân làng phát hiện
Theo luân lý xưa không đợi khi có bị cưởng bức mới gọi là thất tiết, chỉ cần nắm tay, động đến tà áo coi như xâm phạm tiết hạnh rồi. Đức bà Phi Yến bấy lâu nay tuy đã dứt tình, song vẫn giử vẹn mình trong sạch, bởi thế Đức bà đã tự mình chặt đứt cánh tay dơ dáy ấy và nhờ một bà lão mang đi chôn nhưng vẫn chưa thấy hết tủi nhục trong lòng, ngay đêm hôm đó thừa lúc mọi người không để ý, bà đã liều mình tự tử để vẹn toàn danh tiết. Toàn dân làng Cỏ Ống phẩn uất chẳng khác nào lửa đổ thêm dầu với đủ thứ gậy gộc, giáo mác kéo sang làng An Hải buộc dân làng An Hải phải làm thế nào cho Đức bà sống lại, bằng không họ sẽ tiêu diệt cả làng An  Hải. do sự dàn xếp khôn ngoan của quan Hải trấn dân làng Cỏ ống ông đưa ra giải pháp dung hòa “Làng An Hải phải làm heo tạ lỗi và nộp tên Biện Thi cho làng Cỏ Ống được toàn quyền định đoạt”. Số phận đã an bài cho Đức bà nằm xuống tại làng An Hải nên cũng thuận theo ý trời để thi hài Đức bà lại cho dân làng An Hải lo việc tống táng và lập miếu thờ, hàng năm cúng bái có sự tham gia của giới chức và dân làng Cỏ Ống. Từ đó đến nay bà con, nhân dân Côn Đảo hàng năm đều tổ chức lễ giỗ Bà Phi Yến vào ngày 18/10 âm lịch.
THI VÂN