|
- Ngành công nghiệp Dầu khí: Chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp và quyết định tốc độ tăng trưởng trên địa bàn. Năm 2000 giá trị sản xuất ngành công nghiệp khoảng 44.680 tỷ đồng, trong đó khai thác dầu khí khoảng 36.880 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 82,5%, các ngành còn lại khoảng 7.800 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 17,5%. Ngoài ra ngành công nghiệp dịch vụ dầu khí bao gồm: Sửa chữa tàu biển, sửa giàn khoan, sản xuất thay thế các cấu kiện kim loại trên giàn khoan, sản xuất hoá chất phục vụ cho việc khoan thăm dò và khai thác, chống ăn mòn kim loại, công nghiệp cơ khí phục vụ dầu khí... |
|
![]() |
- Công nghiệp sử dụng khí đốt làm nguyên liệu, nhiên liệu: Bao gồm các ngành sản xuất điện năng, sản xuất hoá chất, phân bón, vật liệu xây dựng, sấy hải sản, các loại chất dẻo, sản xuất phân phối khí hoá lỏng LPG và các loại công nghiệp sử dụng khí đốt khác. Các loại hình công nghiệp nêu trên có thể đầu tư tại các khu công nghiệp Phú Mỹ I (954ha), Mỹ Xuân A (122ha), khu công nghiệp thấp Long Hương (30ha). |
- Kế hoạch phát triển giai đoạn 2001 – 2005 của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro
- Công nghiệp chế biến thủy hải sản: Với 18 cơ sở chế biến thuỷ hải sản đông lạnh, công suất thiết kế khoảng 72 tấn/ngày, hàng năm sản xuất được từ 8 – 10 nghìn tấn hải sản xuất khẩu. Ngoài ra còn có hàng trăm cơ sở chế biến hải sản nhỏ, hàng năm cung cấp cho thị trường trên 6.000 tấn cá khô - mực khô, 7 – 8 triệu lít nước mắm, trên 12.000 tấn bột cá. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đã đạt khoảng 3.500ha, sản lượng khoảng 1,5 – 1,6 nghìn tấn, đặc biệt việc nuôi tôm giống cung cấp cho các tỉnh phát triển khá mạnh. - Công nghiệp sản xuất giày da, may mặc và các loại công nghiệp sử dụng nhiều lao động: Sản xuất giày các loại từ 3 – 3,5 triệu đôi/năm. Sản xuất may mặc từ 2 – 2,2 triệu sản phẩm/năm. Đây là loại hình công nghiệp được ưu tiên hàng đầu tại tỉnh. - Công nghiệp chế biến nông sản: Bao gồm công nghiệp chế biến cao su, cà phê, bắp, khoai mì, điều, cây ăn quả, thịt heo, gà, sản xuất muối công nghiệp. Sản lượng hàng năm của các loại nông sản trên: Cao su khoảng 19.000 – 20.000 tấn/năm, cà phê 13.000 – 14.000 tấn/năm, khoai mì 117.000 – 120.000 tấn/năm, bắp 60.000 – 70.000 tấn/năm, điều 3.000 – 4.000 tấn/năm, cây ăn quả 20.000 – 22.000 tấn/năm, thịt heo 14.000 – 15.000 tấn/năm, thịt gia cầm 3.300 – 3.800 tấn/năm, muối 60.000 – 70.000 tấn/năm. - Công nghiệp dịch vụ cảng, hàng hải: Hiện tại toàn tỉnh có 13 cảng biển lớn: 1. Cảng Dầu khí, dài 867m cho tàu 5.000 tấn cập bến. - Công nghiệp luyện kim và sản xuất thép: Hiện nay đã có một nhà máy cán thép VinaKyoei đang hoạt động với công suất khoảng 240.000 tấn/năm. Tỉnh đang cùng với Bộ Công nghiệp, Tổng công ty thép Việt Nam quy hoạch, triển khai xây dựng khu công nghiệp luyện cán thép 200ha tại khu vực Cái Mép - Ngành công nghiệp sản xuất điện năng: Với lợi thế về nguồn khí đốt, trong tương lai tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ trở thành trung tâm năng lượng lớn nhất của cả nước. Hiện có 2 nhà máy Điện đang hoạt động, Nhà máy điện Bà Rịa với 8 tổ máy và 1 đuôi hơi có tổng công suất 327,8MW, Nhà máy điện Phú Mỹ 2-1 với 4 tổ máy, có tổng công suất 568MW. Đang tiến hành đầu tư nhà máy điện Phú Mỹ 1 công suất 1.090MW, nhà máy điện Warsila công suất 120MW, nhà máy điện Kidwel công suất 40MW. Sắp tới sẽ tiến hành đầu tư nhà máy điện Phú Mỹ 3 công suất 720MW, nhà máy điện Phú Mỹ 2-2 công suất 720MW. Khi đã hoàn thành, các nhà máy điện sẽ có tổng công suất khoảng 3.642MW. Có 5 trạm biến điện trung gian. |
|
Diện tích đất nông nghiệp hiện nay vào khoảng 115,462ha, chiếm 58,4% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.
Diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh có khoảng 67.547ha, trong đó đất có rừng 32.361ha.
Về giao thông vận tải:
Mạng lưới đường bộ: hiện có đã nối liền tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với các tỉnh bạn và cả nước trên 3 tuyến đường quốc lộ 51, 56, 55. Đặc biệt quốc lộ 51 đã nâng cấp lên 4 làn xe chạy rất thuận tiện, nhanh chóng từ Vũng Tàu đi thành phố Hồ Chí Minh. Hầu hết các tuyến đường liên huyện và các trục đường trong đô thị đã được bê tông nhựa hoá.
Y tế: Gồm 2 bệnh viên đa khoa cấp tỉnh với 650 giường bệnh, trong đó bệnh viện Lê Lợi (Vũng Tàu) 250 giường, bệnh viện Bà Rịa 400 giường; một trung tâm chẩn đoán y khoa, một trung tâm y tế dự phòng, 8 trung tâm y tế cấp huyện, 8 phòng khám đa khoa khu vực; 59 trạm y tế xã phường và gần 200 phòng mạch tư nhân. Lực lượng cán bộ y tế có 4 thạc sĩ, 325 bác sĩ, 273 y sĩ.










